
Hà Nội có lợi thế về nguồn nhân lực, tri thức và khả năng tập trung các nguồn lực phát triển. Tuy nhiên, quy mô nhỏ của phần lớn doanh nghiệp và khoảng cách giữa nghiên cứu với thị trường đặt ra yêu cầu chuyển những lợi thế này thành năng suất, năng lực đổi mới sáng tạo và giá trị kinh tế thực chất.

Diễn đàn Kinh tế Thủ đô lần thứ III năm 2026 - CEF III với chủ đề “Động lực tăng trưởng từ nguồn nhân lực chất lượng cao”.
Tại Diễn đàn Kinh tế Thủ đô lần thứ III năm 2026 (CEF III), PGS.TS Trần Đình Thiên đặt vấn đề về khả năng chuyển hóa lợi thế của Hà Nội thành năng lực phát triển vượt trội. Theo ông, Thủ đô có nhiều điều kiện để đi đầu, dẫn dắt cả nước và nâng cao sức cạnh tranh quốc tế. Tuy nhiên, lợi thế về tri thức và nguồn nhân lực chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển thành sản phẩm, công nghệ và mô hình kinh doanh tạo ra giá trị mới.
Hà Nội hiện có 121 trường đại học, học viện; tỷ lệ lực lượng lao động đã qua đào tạo năm 2024 đạt 53,9%. Đây là nền tảng quan trọng để phát triển kinh tế dựa trên tri thức. Nhưng vấn đề cốt lõi không chỉ là nguồn nhân lực được đào tạo đến đâu, mà còn là khả năng đưa tri thức vào sản xuất, kinh doanh, nâng năng suất và tạo ra giá trị gia tăng.
Quy mô doanh nghiệp là điểm nghẽn
Theo số liệu được PGS.TS Trần Đình Thiên đề cập, năm 2024, có tới 96,2% doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội sử dụng dưới 50 lao động. Trong giai đoạn 2015-2024, số lượng doanh nghiệp tăng 56,7%, trong khi tốc độ tăng việc làm chỉ đạt 19,9%.

PGS.TS Trần Đình Thiên tham luận tại diễn đàn.
Những con số này cho thấy phát triển doanh nghiệp không thể chỉ được đo bằng số lượng đơn vị gia nhập thị trường. Khả năng mở rộng quy mô, tạo việc làm, nâng năng suất và gia tăng giá trị trên mỗi lao động mới là những yếu tố quyết định sức phát triển dài hạn.
Ở quy mô nhỏ, doanh nghiệp thường gặp hạn chế về nguồn lực đầu tư công nghệ, nghiên cứu phát triển, đào tạo nhân lực và mở rộng thị trường. Bên cạnh đó, ùn tắc giao thông, ngập úng và ô nhiễm cũng làm gia tăng chi phí vận hành, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và khả năng thu hút lao động.
Vì vậy, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp cần được đặt trong mối liên hệ giữa năng lực nội tại với chất lượng hạ tầng và môi trường kinh doanh. Nếu những chi phí phát sinh từ hạn chế của đô thị không được giải quyết, lợi thế về nhân lực và tri thức sẽ khó chuyển hóa đầy đủ thành hiệu quả kinh tế.
Đưa tri thức vào chuỗi giá trị
Theo các mục tiêu được đề cập tại diễn đàn, đến năm 2030, kinh tế số được đặt mục tiêu chiếm 40% GRDP Hà Nội, còn công nghiệp văn hóa chiếm 8% GRDP. Để hiện thực hóa những mục tiêu này, thành phố cần thúc đẩy hình thành các chuỗi giá trị có khả năng tạo doanh thu và giá trị gia tăng, thay vì chỉ tập trung vào đầu tư ban đầu.
Với công nghiệp văn hóa, PGS.TS Trần Đình Thiên đặt vấn đề tổ chức nguồn lực theo chuỗi, từ tài nguyên, thiết kế, sản xuất đến phân phối và tái đầu tư sáng tạo. Với kinh tế số, trọng tâm là đưa công nghệ vào giải quyết những vấn đề cụ thể của doanh nghiệp, giúp giảm chi phí, nâng năng suất và mở rộng thị trường.
Một hướng đi khác là tăng cường kết nối giữa trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp, phát huy vai trò của Hòa Lạc và phát triển hệ thống thiết bị dùng chung phục vụ nghiên cứu. Khi kết quả nghiên cứu gắn với nhu cầu thị trường, doanh nghiệp có thêm cơ hội tiếp cận công nghệ, còn tri thức có điều kiện chuyển thành sản phẩm và dịch vụ có giá trị thương mại.
Đánh giá chính sách bằng kết quả thực tế
Đáng chú ý, PGS.TS Trần Đình Thiên đề xuất lựa chọn khoảng 10 nhóm nhiệm vụ để triển khai trong 12-24 tháng. Trong 90 ngày đầu, cần xác định nhiệm vụ và giao đầu mối thực hiện; tiếp đó lựa chọn đối tác, khởi động các chương trình thí điểm. Giai đoạn 2027-2030 sẽ đánh giá độc lập để mở rộng mô hình hiệu quả và dừng những dự án không đạt yêu cầu.
Cách tiếp cận này nhấn mạnh yêu cầu xác định rõ trách nhiệm, nguồn lực, thời hạn và tiêu chí đánh giá. Hiệu quả không nên chỉ được đo bằng số chương trình triển khai hay số doanh nghiệp tham gia, mà cần phản ánh sự thay đổi về năng suất, quy mô hoạt động, khả năng thương mại hóa công nghệ và giá trị kinh tế tạo ra.
Với Hà Nội, lợi thế về tri thức, nhân lực và khả năng tập trung nguồn lực mới là điều kiện ban đầu. Năng lực cạnh tranh chỉ được nâng lên khi doanh nghiệp có thể mở rộng quy mô, ứng dụng công nghệ hiệu quả và tạo ra nhiều giá trị gia tăng hơn. Đây cũng là thước đo thực chất cho khả năng chuyển lợi thế của Thủ đô thành sức mạnh kinh tế.
